9 tháng 2 năm 2022 10:13
151

Tóm lược đại ý

• Chỉ số S&P 500 bao hàm 500 công ty đại chúng hàng đầu của Mỹ, với trọng số phụ thuộc chủ yếu vào mức vốn hóa thị trường.

• S&P là một chỉ số gia quyền thả nổi, có nghĩa là mức vốn hóa thị trường của các công ty trong chỉ số này được điều chỉnh theo số lượng cổ phiếu được lưu hành để giao dịch công khai.

• Do có chiều sâu và đa dạng nên S&P 500 được nhiều người coi là một trong những thước đo tốt nhất đối với các cổ phiếu lớn ở thị trường Mỹ, và thậm chí toàn bộ thị trường chứng khoán nói chung.

• Nhà đầu tư sẽ không thể đầu tư trực tiếp vào S&P 500 vì đây là một chỉ số, nhưng những ai quan tâm thì có thể rót vốn vào các quỹ đầu tư sử dụng S&P 500 làm chỉ số chuẩn, mô phỏng theo các mã chứng khoán thành phần và hiệu suất của chỉ số này.

 

Chỉ số S&P 500 là gì?

Chỉ số S&P 500, hay Standard & Poor's 500, là một chỉ số gia quyền vốn hóa thị trường của 500 công ty đại chúng hàng đầu ở Mỹ. Đây không phải là danh sách bao gồm chính xác 500 công ty hàng đầu của Mỹ tính theo mức vốn hóa thị trường vì chỉ số này cũng tính đến những tiêu chí khác. Tuy nhiên, chỉ số S&P 500 được coi là một trong những thước đo tốt nhất về hiệu suất của các cổ phiếu nổi bật ở thị trường Mỹ và của thị trường chứng khoán nói chung.

 

Công thức và phép tính toán trọng số cho S&P 500

S&P 500 sử dụng phương pháp gia quyền vốn hóa thị trường, phân bổ trọng số (theo tỷ lệ phần trăm) cao hơn cho các công ty có vốn hóa thị trường lớn hơn.

 

 

Quy trình xác định tỷ trọng của từng mã thành phần trong S&P 500 bắt đầu bằng việc tính toán mức tổng vốn hóa thị trường của chỉ số thông qua phép cộng giá trị vốn hóa thị trường của mọi công ty trong chỉ số lại với nhau.


 

Để đánh giá, giá trị vốn hóa thị trường của một công ty được tính bằng cách lấy giá cổ phiếu hiện tại nhân với số cổ phiếu đang lưu hành của công ty. Điều may mắn là mức tổng vốn hóa thị trường của S&P 500 cũng như giá trị vốn hóa thị trường của các công ty riêng lẻ đều được công bố thường xuyên trên các trang web tài chính, qua đó giúp cho giới đầu tư không cần phải tự tính toán.

Tỷ trọng của mỗi công ty trong chỉ số được tính bằng cách lấy mức vốn hóa thị trường của công ty chia cho tổng vốn hóa thị trường của chỉ số.

 

Các chỉ số S&P khác

S&P 500 là một chỉ số thành viên trong loạt chỉ số S&P Global 1200. Các chỉ số phổ biến khác bao gồm S&P MidCap 400, đại diện cho các công ty vốn hóa trung bình và S&P SmallCap 600, đại diện cho các công ty vốn hóa nhỏ. Chỉ số S&P 500, S&P MidCap 400 và S&P SmallCap 600 kết hợp lại sẽ hợp thành một chỉ số đại diện cho tổng vốn hóa của thị trường Mỹ được gọi là S&P Composite 1500.
 

Cấu trúc của chỉ số S&P 500

Chỉ số S&P chỉ tính đến các cổ phiếu thả nổi tự do khi tính toán mức vốn hóa thị trường, nghĩa là những cổ phiếu có thể được giao dịch công khai. S&P sẽ điều chỉnh mức vốn hóa thị trường của mỗi công ty để bù đắp lại tác động từ các đợt phát hành cổ phiếu mới hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Giá trị của chỉ số được tính bằng mức tổng giá trị vốn hóa thị trường đã điều chỉnh của mỗi công ty và chia kết quả đó cho một số chia. Giá trị của số chia đó là thông tin độc quyền của S&P và không được công bố rộng rãi.

 

Tuy nhiên, ai cũng có thể tính toán tỷ trọng của một công ty bất kỳ trong chỉ số, qua đó có thể cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin có giá trị. Nếu một cổ phiếu nào đó tăng hoặc giảm, nhà đầu tư có thể biết được liệu công ty tương ứng có thể có tác động đến giá trị chỉ số tổng thể hay không. Chẳng hạn, một công ty có tỷ trọng 10% sẽ có tác động lớn hơn đến giá trị của chỉ số so với một công ty có tỷ trọng 2%.

 

S&P 500 là một trong những chỉ số được đề cập đến nhất vì chỉ số này đại diện cho các tập đoàn đại chúng lớn nhất ở Mỹ. S&P 500 tập trung vào phân khúc doanh nghiệp vốn hóa lớn của thị trường Mỹ và cũng là một chỉ số gia quyền thả nổi (float-weighted, một kiểu gia quyền vốn hóa), có nghĩa là mức vốn hóa thị trường của công ty được điều chỉnh theo số lượng cổ phiếu được lưu hành để giao dịch công khai.

 

Lưu ý quan trọng: Đợt tái cân đối gần đây nhất của chỉ số S&P 500 được công bố vào ngày 03/12/2021 và có hiệu lực trước khi thị trường mở cửa vào ngày 20/12/2021. Các công ty thành viên Signature Bank (SBNY), SolarEdge Technologies Inc. (SEDG) và FactSet Research Systems Inc. (FDS) của chỉ số S&P MidCap 400 đều được nâng hạng lên nhóm S&P 500, soán ngôi của các công ty thành viên như Leggett & Platt Inc. (LEG), Hanesbrands Inc. (HBI) và The Western Union Co. (WU). Cả ba công ty sau đều bị chuyển sang nhóm S&P MidCap 400.

 

Đối thủ cạnh tranh của S&P 500

S&P 500 so với DJIA

Một chỉ số chuẩn nữa của thị trường chứng khoán Mỹ (và cũng phổ biến) là Chỉ số Bình quân Công nghiệp Dow Jones (DJIA). Chỉ số S&P 500 thường là chỉ số ưa thích của các tổ chức đầu tư nhờ có chiều sâu và đa dạng, trong khi DJIA từ trước đến nay đều bao hàm các cổ phiếu quan trọng trong mắt các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Các tổ chức đầu tư thường xem S&P 500 là chỉ số đại diện “chuẩn” hơn cho thị trường chứng khoán Mỹ vì chỉ số này bao gồm nhiều cổ phiếu hơn trên tất cả các phân khúc (500 mã so với 30 mã của Dow Jones).

 

Hơn nữa, chỉ số S&P 500 được áp dụng phương pháp gia quyền vốn hóa thị trường, phân bổ trọng số (theo tỷ lệ phần trăm) cao hơn cho các công ty có vốn hóa thị trường lớn hơn. Trong khi đó, DJIA là chỉ số gia quyền giá, cho phép các công ty có giá cổ phiếu cao hơn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong chỉ số. Trong các chỉ số thị trường Mỹ, cấu trúc gia quyền theo giá trị vốn hóa có phần phổ biến hơn so với cấu trúc gia quyền theo giá cổ phiếu.

 

S&P 500 so với Nasdaq

Nasdaq là một sàn giao dịch chứng khoán điện tử toàn cầu. Trên thị trường có nhiều chỉ số chứng khoán hàm chứa các cổ phiếu được giao dịch trên Nasdaq. Lưu ý rằng bất kỳ một cổ phiếu nào đó được lọt vào chỉ số S&P 500 cũng có thể trực thuộc trong một hoặc nhiều chỉ số Nasdaq.
 

Các chỉ số chứng khoán Nasdaq được theo dõi nhiều nhất bao gồm: Chỉ số Nasdaq 100 (bao gồm 100 cổ phiếu phổ thông lớn nhất, được giao dịch nhiều nhất và được niêm yết trên sàn Nasdaq), chỉ số Tổng hợp Nasdaq  (vốn được gọi đơn giản là “Nasdaq” trên các phương tiện truyền thông và bao gồm hơn 2.500 cổ phiếu phổ thông giao dịch trên sàn Nasdaq), Chỉ số Vốn chủ sở hữu Toàn cầu Nasdaq (bao gồm các cổ phiếu quốc tế) và Chỉ số ngành bán dẫn PHLX - SOX (chỉ số đo lường hàng đầu về các cổ phiếu liên quan đến ngành bán dẫn).

 

Các chỉ số S&P so với Russell

S&P 500 là một chỉ số thành viên của loạt chỉ số do Standard & Poor's tạo ra. Loạt chỉ số Standard & Poor’s cũng giống với loạt chỉ số Russell ở chỗ cả hai đều là tập hợp các chỉ số gia quyền vốn hóa thị trường, trừ khi được thiết lập theo quy chuẩn khác (chẳng hạn như các chỉ số gia quyền tỷ trọng đều).

Tuy nhiên, loạt chỉ số S&P và Russell có hai điểm khác biệt lớn về mặt cấu trúc. Đầu tiên, Standard & Poor's sẽ chọn lọc các công ty thành phần thông qua một ủy ban, trong khi đó chỉ số Russell sử dụng công thức để chọn cổ phiếu thành viên. Thứ hai, các chỉ số thuộc họ S&P sẽ không có sự trùng lặp về tên (chẳng hạn như giữa nhóm chỉ số tăng trưởng và chỉ số giá trị), trong khi đó chỉ số Russell sẽ bao hàm cùng một công ty trong cả chỉ số thuộc họ “giá trị” và “tăng trưởng”.

 

S&P 500 so với Quỹ Vanguard 500

Quỹ Chỉ số Vanguard 500 là quỹ đầu tư mô phỏng theo giá và lợi suất của Chỉ số S&P 500 bằng cách đầu tư tổng tài sản ròng vào các cổ phiếu có mặt trong chỉ số này và nắm giữ mỗi cổ phiếu thành phần với tỷ trọng xấp xỉ bằng chỉ số S&P. Thông qua đó, hiệu suất của Quỹ Vanguard 500 hầu như không bị lệch so với chỉ số S&P mà họ mô phỏng theo.

 

Mẹo đầu tư: S&P 500 là một chỉ số, chính vì vậy mà các nhà đầu tư sẽ không thể giao dịch trực tiếp chỉ số này. Những người nào muốn đầu tư vào các công ty trong S&P sẽ phải đầu tư vào quỹ tương hỗ hoặc quỹ hoán đổi danh mục mô phỏng theo chỉ số này, chẳng hạn như quỹ ETF Vanguard 500 (VOO).

 

Những điểm hạn chế của Chỉ số S&P 500

Một trong những điểm hạn chế của S&P và các chỉ số gia quyền vốn hóa thị trường khác sẽ phát sinh khi các cổ phiếu trong chỉ số này bị định giá quá cao, nghĩa là chúng tăng cao hơn so với chứng quyền cơ bản. Nếu một cổ phiếu nào đó chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ số trong khi lại được định giá quá cao thì cổ phiếu đó thường sẽ làm tăng giá trị hoặc mức giá tổng thể của chỉ số.

Khi mức vốn hóa thị trường của doanh nghiệp gia tăng thì chưa chắc điều này lại phản ánh chính xác về các yếu tố cơ bản của doanh nghiệp đó vì khi đó chúng chỉ phản ánh sự gia tăng giá trị của giá cổ phiếu trên số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Do đó, các chỉ số tỷ trọng đều càng ngày càng trở nên phổ biến, cụ thể, biến động giá cổ phiếu của mỗi công ty sẽ có tác động tương đương đến chỉ số.

 

Trường hợp ví dụ về các cổ phiếu thành viên của S&P 500

Để hình dung rõ hơn về tầm ảnh hưởng của các cổ phiếu trực thuộc đến chỉ số S&P, tỷ trọng của từng cổ phiếu riêng lẻ phải được tính bằng cách chia mức vốn hóa thị trường của mỗi công ty cho tổng vốn hóa thị trường của chỉ số. Dưới đây là một trường hợp ví dụ về tỷ trọng của Apple trong chỉ số này:

 

• Apple Inc. (AAPL) báo cáo đã phát hành 16,71 tỷ cổ phiếu phổ thông cơ bản và đang lưu hành trong hồ sơ báo cáo hàng năm vào tháng 10/2021 và giá cổ phiếu này là 174 USD tính đến ngày 22/12/2021.

• Giá trị vốn hóa thị trường của Apple là 2,91 nghìn tỷ USD (hay 16,71 tỷ cổ phiếu x 174 USD). Con số 2,91 nghìn tỷ USD được sử dụng làm tử số trong phép tính tỷ trọng trong chỉ số.

• Tổng vốn hóa thị trường của S&P 500 là khoảng 40,73 nghìn tỷ USD tính đến ngày 22/12/2021, tức là tổng giá trị vốn hóa thị trường của tất cả các cổ phiếu trực thuộc trong chỉ số này.

• Tỷ trọng của Apple trong chỉ số là 7,1%, tính từ phép tính lấy 2,91 nghìn tỷ USD chia cho 40,73 nghìn tỷ USD.

 

Nhìn chung, tỷ trọng của một công ty càng lớn thì từng mức thay đổi 1% trong giá cổ phiếu sẽ càng có tác động nhiều hơn đến chỉ số. Lưu ý rằng S&P hiện không cung cấp toàn bộ danh sách 500 công ty trên trang web của họ ngoài 10 công ty hàng đầu.

 

Blog Trading